Các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng nhà đất

7-03-2020, 03:00 | Góc pháp luật |

Thu nhập từ chuyển nhượng nhà đất là một trong những thu nhập phải đóng thuế thu nhập cá nhân, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân chuyển nhượng nhà đất sẽ không phải đóng loại thuế này.

Miễn thuế thu nhập cá nhân nếu việc mua bán giữa người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng

Theo điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa những người sau thì được miễn thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể:

  • Giữa vợ với chồng;
  • Cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ;
  • Cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi;
  • Cha chồng, mẹ chồng với con dâu;
  • Bố vợ, mẹ vợ với con rể;
  • Ông nội, bà nội với cháu nội;
  • Ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại;
  • Anh chị em ruột với nhau.

Ngoài ra, trường hợp bất động sản do vợ hoặc chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ chồng, khi ly hôn được phân chia theo thỏa thuận hoặc do tòa án phán quyết thì việc phân chia tài sản đó thuộc diện được miễn thuế.

Miễn thuế thu nhập cá nhân nếu người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, một thửa đất

Theo quy định, cá nhân chỉ sở hữu nhà, đất duy nhất khi chuyển nhượng sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN).

Các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng nhà đất

Bạn sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu như tại thời điểm mua bán bạn chỉ sở hữu 1 bất động sản duy nhất

Điều kiện để chứng minh chỉ có 1 căn nhà duy nhất được quy định tại Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC và Điều 4 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP. Khi đó trường hợp được miễn thuế TNCN khi mua bán nhà đất phải đồng thời đáp ứng 3 điều kiện sau:

  • Thứ nhất, tại thời điểm chuyển nhượng, cá nhân chỉ có duy nhất quyền sở hữu 1 nhà ở hoặc quyền sử dụng 1 thửa đất (bao gồm cả trường hợp có nhà ở hoặc công trình xây dựng gắn liền với thửa đất đó). Việc xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở này căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

  • Thứ hai, tính đến thời điểm chuyển nhượng, cá nhân có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở tối thiểu là 183 ngày. Nói cách khác, tính từ ngày cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đến ngày chuyển nhượng phải đảm bảo tối thiểu là 183 ngày.

Trường hợp được cấp lại, cấp đổi theo quy định của pháp luật về đất đai thì thời điểm xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở vẫn được tính theo thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cũ (trước khi được cấp lại, cấp đổi).

  • Thứ ba, nhà ở, quyền sử dụng đất ở phải được chuyển nhượng toàn bộ. Trường hợp cá nhân có quyền hoặc chung quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất ở duy nhất nhưng chuyển nhượng một phần thì không được miễn thuế cho phần chuyển nhượng đó.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN